Mỗi tương quan giữa chuyển hoá glucose, khả năng chống oxy hoá với mức peroxi hoá lipid màng hồng cầu bệnh nhân bị tan máu không rõ nguyên nhân và bệnh nhân nhiễm độc chì

Cấp đề tài: 01

Năm: 2004

Chủ nhiệm: PGS. Vũ Thị Phương

Đồng tác giả:

Xếp loại: xs

Đã đào tạo được: 4 ThS, 1 CKII, 2 luận văn tốt nghiệp, 5SV NCKHThS. Trần Văn BảoThS. Nguyễn Như PhốThS. Lưu Văn DưỡngThS. Trần Ngọc AnhCKII. Đào Duy AnhSV Nguyễn Phương HạnhSV. Vũ Ngọc Thắng

Xem chi tiết

Kết quả bước đầu theo dõi dọc bệnh nhân doạ tự tử

Năm xuất bản: 2004

Số xuất bản: 2

Tác giả: Nguyễn Văn Tường, Trần Thị Thanh Hương, Hà Trần Hưng, Nguyễn Văn Tuấn, Nguyễn Thị Thanh Hương, Nguyễn Lan Anh, Hoàng Hoa Sơn, Phạm Thị Minh Đức

90 bệnh nhân doạ tự tử vào điều trị tại các khoa hồi sức cấp cứu tại các bệnh viện nội thành Hà Nội được tiến hành phỏng vấn và chia thành 2 nhóm: 44 bệnh nhân được nhận điều tri thường quy và nhóm gồm 46 bệnh nhân được nhận điều trị thường quy và tiến hành can thiệp. Tư vấn trước khi bệnh nhân ra viện và theo dõi dọc được xem như các biện pháp can thiệp. Các thông tin chung được thu thâp. Tỷ suất nữ/nam là 2,6:1. Tuổi trung bình của các bệnh nhân doạ tự tử là 25,1 ± 9,3. Sử dụng các thuốc giảm đau, gây ngủ, an thần là phương pháp chính được sử dụng để doạ tự tử. 23.5% bệnh nhân có tiền sử doạ tự tử trước đó. Nguyên nhân chính dẫn đến tự tử ở 33,3% bệnh nhân là do các áp lực liên quan tới tâm lý. Việc theo dõi bệnh nhân tại thời điểm 1 tuần, 2 tuần, 4 tuần, 7 tuần, 11 tuần, 4 tháng, 6 tháng, 12 tháng và 18 tháng sau khi ra viện được thực hiện. Một số trường hợp có hành vi doạ tự tử cho tới tháng thứ 4. Không có bệnh nhân nào cảm thấy sức khoẻ xấu đi hoặc không tốt tại tháng theo dõi thứ 4. Các bệnh nhân cần sự hỗ trợ về tinh thần chủ yếu từ bạn bè và người thân.

Xem chi tiết

Gánh nặng tử vong từ 2002-2004 tại huyện Phù Cát – Bình Định

Năm xuất bản: 2006

Số xuất bản: 4

Tác giả: Nguyễn Ngọc Hùng, Hoàng Hoa Sơn

Tiến hành nghiên cứu hồi cứu gánh nặng tử vong tại huyện Phù Cát - Bình Định từ 2002 đến 2004 băng bộ công cụ “Giải phẫu lời nói” (Verbal Autopsy). Mục tiêu: (1) Đánh giá các nguyên nhân liên quan đến tình hình tử vong trong ba năm tại huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam và (2) Xác định gánh nặng tử vong theo số năm bị mất do chết sớm. Đối tượng: Toàn bộ các trường hợp tử vong từ ngày 1 tháng 1 năm 2002 đến ngày 31 tháng 12 năm 2004 thuộc dân số quản lý của huyện. Phương pháp: Phân tích theo đánh giá gánh nặng tử vong của WHO. Kết quả: Tỷ lệ tử vong năm 2004 tăng 1,32 lần so với năm 2002. Số năm sống bị mất do chết sớm ở nhóm tuổi > 60 chiếm số lượng lớn, đặc biệt do các bệnh không truyền nhiễm. Kết luận: (1) Tỷ lệ tử vong trên 103 người tăng do bệnh không truyền nhiễm và tai nạn ngộ độc từ 2002 đến 2004 (KTN: 2,02 – 3,10/103; TNNĐ: 0,30 – 1,20/103): trong đó ở nhóm nam cao hơn ở nữ. Đối với nguyên nhân tử vong do các bệnh truyền nhiễm, thai sản và dinh dưỡng có xu hướng giảm từ 2002 đến năm 2004 (0,56 – 0,23/103) nhưng ở nam giới giảm nhiều hơn so với nữ giới.(2) Số năm bị mất do chết sớm trên 103 dân liên quan nhiều đến nhóm tuổi: cao ở các nhóm > 60 (74,32 đến 129,56 năm/103 người) và 0 - 4 tuổi (36,63 – 62,99 năm/103 người).

Xem chi tiết

Mô hình tử vong ở Việt Nam: kết quả từ nghiên cứu điều tra nguyên nhân tử vong bằng phương pháp phỏng vấn

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 5.1

Tác giả: Nguyễn Thị Kim Chúc,Nguyễn Hoàng Long

Số liệu thống kê về tử vong nói chung cũng như nguyên nhân tử vong nói chung ở Việt Nam hiện nay chưa đầy đủ, nghiên cứu này nhằm các mục tiêu: (1) Xác định mức độ đầy đủ của số liệu tử vong hiện có và (2) xác định nguyên nhân tử vong (trên toàn quốc) bằng phương pháp phỏng vấn. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: phỏng vấn 6798 người có quan hệ gần gũi với người đã mất bằng bộ câu hỏi chuẩn của WHO. Danh sách các trường hợp tử vong được lấy từ điều tra biến động dân số năm 2007 của Tổng cục Thống kê. Áp dụng phương pháp Preston - Coale để đánh giá mức độ đầy đủ của số liệu tử vong từ điều tra biến động dân số. Số liệu tử vong của mỗi nhóm tuổi và giới đều được hiệu chỉnh để tính toán độ đầy đủ của số liệu. Kết quả: độ đầy đủ của số liệu tử vong là 69% đối với nam giới và 54% đối với nữ. Tỷ lệ này thay đổi theo vùng địa lý. Có 10% số tử vong (đối với nam) và 15% (đối với nữ) không xác định được nguyên nhân tử vong bằng phương pháp phỏng vấn. Nguyên nhân chính gây tử vong ở cả nam và nữ là các bệnh tim mạch. Các nguyên nhân tử vong tiếp theo khác nhau đối với nam và nữ. Tuy nhiên, ung thư và các bệnh không lây nhiễm vẫn là các nguyên nhân nổi trội đối với cả nam và nữ. Kết luận: có thể áp dụng phương pháp xác đinh nguyên nhân tử vong bằng phương pháp phỏng vấn ở Việt Nam mặc dù việc sử dụng số liệu tử vong từ các cuộc điều tra cũng có những hạn chế.

Xem chi tiết

Chẩn đoán di truyền phân tử bệnh Beta Thalassaemia tại bệnh viện Từ Dũ

Năm xuất bản: 2007

Số xuất bản: 10.1

Tác giả: Nguyễn Khắc Hân Hoan

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả thử nghiệm sàng lọc bằng phương pháp multiplex ARMS-PCR và chẩn đoán xác định bằng ARMS-PCR các đột biến -thalassaemia từ 1/1/2007 – 30/6/2007 tại Bệnh Viện Từ Dũ. Phương pháp: các gia đình có tiền sử bệnh -thalassaemia đã được chẩn đoán trên lâm sàng và huyết học sẽ được sàng lọc và chẩn đoán xác định alen đột biến bằng multiplex ARMS-PCR và ARMS-PCR với bệnh phẩm là tế bào máu ngoại vi hoặc tế bào dịch ối. Kết quả: có 26 trường hợp trong 8 gia đình đã được chẩn đoán tình trạng mang gen bệnh hoặc bị bệnh được giới thiệu đến Phòng Di Truyền Bệnh Viện Từ Dũ để chẩn đoán đột biến gen -globin, trong đó có 3 thai 18 tuần được chẩn đoán trước sinh. 27 phản ứng PCR đã được sử dụng, gồm 11 lần sàng lọc bằng multiplex ARMS-PCR và 16 lần chẩn đoán bằng ARMS-PCR. 33 alen đột biến đã được tìm thấy phù hợp với chẩn đoán lâm sàng, gồm 16 người và 3 thai hợp dị hợp tử mang 1 alen đột biến và 7 người dị hợp tử kép mang 2 alen đột biến khác nhau. Các alen được phát hiện đều thuộc nhóm 8 alen tầm soát. Không có trường hợp nào không tìm thấy alen đột biến. Kết luận: chiến lược tầm soát bằng multiplex ARMS-PCR và chẩn đoán xác đinh lại bằng ARMS-PCR 8 đột biến -thalassaemia giúp tiết kiệm rất nhiều tài nguyên và thời gian. 100% các trường hợp đều phát hiện được đột biến. Cần có một chương trình sàng lọc thalassaemia trước sinh phù hợp để chương trình chẩn đoán có hiệu quả và ý nghĩa cao hơn.

Xem chi tiết

Tự Sự Của Một Người Làm Khoa Học

Chủ biên: GS. TS. Nguyễn Văn Tuấn

Nhà xuất bản: NXB Tổng Hợp TPHCM

Năm xuất bản: 2013

Ngôn ngữ: Tiếng Việt

Giới thiệu

Có nhiều cách để người khác biết về mình, nhưng Nguyễn Văn Tuấn đã chọn cách hiệu quả nhất, đó là kể chuyện. Tôi biết về anh không nhiều, chỉ thông qua những bài anh viết trên báo chí Việt và qua blog của anh, nhưng những gì tôi cảm nhận được, cũng giống cảm nhận của nhiều người, anh là một – nhà – khoa – học – dấn – thân. Và cảm nhận đó càng được khẳng định hơn khi đọc Tự sự của một người làm khoa học (NXB Tổng hợp TP.HCM, 2013).

Xem chi tiết

Mô hình quản lý chống đông do bệnh nhân thay van tim tự thực hiện tại nhà theo tư vấn từ xa của bác sĩ

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.2

Tác giả: Nguyễn Quốc Kính

Mô hình chống đông tự thực hiện tại nhà có lợi cho bệnh nhân cần uống thuốc chống đông suốt đời sau thay van tim cơ học. Nghiên cứu được thực hiện nhằm so sánh hiệu quả mô hình bệnh nhân tự xét nghiệm INR và tự điều trị chống đông tại nhà theo tư vấn từ xa của bác sỹ với mô hình chống đông thường quy tại bệnh viện. Kết quả cho thấy so với mô hình thường qui, mô hình tự xét nghiệm INR và tự điều trị chống đông tại nhà tiện ích hơn, tăng tỷ lệ và thời gian đạt đích điều trị INR, giảm biến chứng chảy máu và huyết khối. Mô hình tự xét nghiệm INR và tự điều trị chống đông tại nhà ưu việt hơn hẳn về tiện ích và hiệu quả chống đông.

Xem chi tiết