Lý Thuyết Thiết Bị Hình Ảnh Y Tế – Tập 2: Máy Siêu Âm

Chủ biên: KS. Lê Tiến Khoan

Nhà xuất bản: Bộ Y Tế, NXB Giáo Dục

Giới thiệu

Sách Lý thuyết thiết bị hình ảnh y tế (tập 2) được biên soạn dựa vào chương trình giáo dục nghề của Bộ Y tế và trên cơ sở chương trình khung đã được phê duyệt. Sách được các tác giả KS. Lê Tiến Khoan (chủ biên), KS. Dương Bá Kiếm, KS. Phạm Ngọc Hoàn, Ths. Thái Thanh Nga biên soạn theo phương châm: kiến thức cơ bản, hệ thống; nội dung chính xác, khoa học; cập nhật các tiến bộ khoa học, kỹ thuật hiện đại và thực tiễn Việt Nam. Sách được cấu trúc gồm 7 bài. Tài liệu là tiền để để các giáo viên và học sinh các trường có thể áp dụng phương pháp dạy – học tích cực.

Xem chi tiết

Điều tra tình hình sử dụng kháng sinh ở bệnh viện tỉnh Phú Thọ

Năm xuất bản: 2004

Số xuất bản: 6.1

Tác giả: Nguyễn Thị Vinh, ỗ Kháng Chiến

Điều tra kiến thức bằng bộ câu hỏi trắc nghiệm, điều tra thực hành kê đơn bằng bộ câu hỏi mở và điều tra 1137 bệnh án của bệnh viện tỉnh Phú Thọ cho kết quả như sau: 1. Điểm trung bình chung là 20,9 (tổng điểm tối đa là 50); tối thiểu đạt 6 và tối đa đạt 35 điểm. 88,6% bác sĩ (BS) và dược sĩ (DS) có thâm niên công tác ≥10 năm và chỉ có 11,4% đã được tham dự một khoá tập huấn về kháng sinh trong thời gian 2 - 3 ngày. Các BS đã quên nhiều kiến thức cơ bản, không được cập nhật thông tin về vi khuẩn gây bệnh, kháng sinh (KS) và sử dụng KS. 2. 79,0% số bệnh nhân nằm viện được điều trị bằng KS; 38,4% được điều trị bằng 1 KS; 40,6% được điều trị bằng ≥ 2 KS, phổ biến nhất là kiểu phối hợp ampicillin + gentamicin (34,4%). Các BS điều trị kê đơn KS chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, chưa chú ý đến tác nhân gây bệnh và phổ tác dụng của KS. Đặc biệt có 23,7% phối hợp betalactam + chloramphenicol để điều trị các nhiễm trùng đường hô hấp hoặc tiêu hoá là chưa hợp lý. 7,3% chọn gentamicin để điều trị nhiễm trùng răng miệng cũng là chưa thích hợp. Tỷ lệ tiền KS/ tiền thuốc toàn BV là 40,1%.

Xem chi tiết

Lý Thuyết Thiết Bị Hình Ảnh Y Tế – Tập 1: Máy X Quang

Chủ biên: KS. Trần Văn Sơn

Nhà xuất bản: Bộ Y Tế, NXB Giáo Dục

Giới thiệu

Sách Lý thuyết thiết bị hình ảnh y tế (tập 1) được biên soạn dựa vào chương trình giáo dục nghề của Bộ Y tế và trên cơ sở chương trình khung đã được phê duyệt. Sách được các tác giả KS. Trần Văn Sơn (chủ biên), PGS. TS. Hoàng Đức Kiệt, TS. Trịnh Đình Chiến, KS. Đoàn Nhật Ánh, KS. Nguyễn Gia Quân biên soạn theo phương châm: kiến thức cơ bản, hệ thống; nội dung chính xác, khoa học; cập nhật các tiến bộ khoa học, kỹ thuật hiện đại và thực tiễn Việt Nam. Sách được cấu trúc gồm 7 bài. Tài liệu là tiền để để các giáo viên và học sinh các trường có thể áp dụng phương pháp dạy – học tích cực.

Xem chi tiết

Bệnh morquio a: Tương quan giữa kiểu gen, kiểu hình và marker sinh học

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 4

Tác giả: Vũ Chí Dũng, Khu Thị Khánh Dung, Nguyễn Thanh Liêm, Nguyễn Phú Đạt, Shunji Tomatsu

Bệnh Morquio A hay Mucopolysaccharidosis IVA (MPS IVA) là bệnh di truyền lặn nhiễm sắc thể thường, bệnh gây nên do thiếu hụt enzyme N - acetylgalactosamine - 6 - sulfate sulfatase (GALNS) dẫn đến loạn dưỡng xương do sự tích tụ quá mức chất chuyển hóa keratan sulfate (KS). Để có thể tiên lượng chính xác và điều trị bệnh một cách thích hợp thì việc hiểu biết mối tương quan giữa kiểu gen, kiểu hình và KS là thiết yếu. Mục tiêu: phát hiện và xác định đặc điểm các đột biến mới của gen GALNS, tìm hiểu mối tương quan giữa kiểu gen, kiểu hình và nồng độ KS trong máu và nước tiểu của bệnh nhân mắc MPS IVA. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 50 bệnh nhân được chẩn đoán mắc MPS IVA và chưa từng được báo cáo trong y văn. Phát hiện và phân tích đột biến của gen GALNS bằng kỹ thuật PCR sau đó phân tích trực tiếp trình tự gen. Sử dụng kỹ thuật “high sensitive ELISA” để đo nồng độ KS trong máu và nước tiểu. Phân tích mối tương quan giữa kiểu gen, kiểu hình và KS ở các bệnh nhân có đầy đủ các thông tin. Kết quả: 48 đột biến khác nhau bao gồm 19 đột biến mới (9 missense, 1 nonsense, 2 mất đoạn nhỏ, 1 thêm đoạn, và 6 splice - site) đã được xác định chiếm 88% các alleles đột biến. 32 đột biến kết hợp với thể nặng của bệnh và 15 đột biến kết hợp với thể nhẹ hơn của bệnh. Nồng độ KS trong máu và nước tiểu của các bệnh nhân MPS IVA cao hơn nhóm chứng bình thường, nồng độ KS trong máu của các bệnh nhân MPS IVA thể nặng cao gấp 1,4 lần so với thể nhẹ, nồng độ KS nước tiểu của các bệnh nhân MPS IVA thể nặng cao gấp 4,6 lần thể nhẹ. Tỷ lệ KS/GAG toàn phần của các bệnh nhân thể nhẹ là 2,2%, thể nặng là 3,9%, trong khi ở trẻ bình thường là 0,5%. Kết luận: nghiên cứu này cung cấp bằng chứng về sự đa dạng của đột biến gen GALNS. Kết hợp việc phân tích đột biến gen với đánh giá lâm sàng và nồng độ KS sẽ giúp dự đoán mức độ nặng của bệnh chính xác hơn, và sẽ được sử dụng để đánh giá kết quả điều trị bằng liệu pháp thay thế enzyme và gen trị liệu

Xem chi tiết

Khảo sát thực hành của cán Bộ Y tế trong việc sử dụng kháng sinh cho trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện Ba Vì, Hà Nội năm 2007

Năm xuất bản: 2009

Số xuất bản: 1

Tác giả: Đỗ Thế Khánh, Nguyễn Thị Kim Chúc, Trần Khánh Toàn, Nguyễn Quỳnh Hoa

Chưa có nhiều nghiên cứu đề cập đến việc sử dụng kháng sinh (KS) ở góc độ người cung ứng dịch vụ y tế. Mục tiêu: khảo sát thực hành của cán bộ y tế (CBYT) trong việc sử dụng KS cho trẻ em dưới 5 tuổi. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: mô tả cắt ngang kết hợp nghiên cứu định lượng (NCĐL) và nghiên cứu định tính (NCĐT). Kết quả và kết luận: với trẻ dưới 5 tuổi, KS được sử dụng nhiều nhất (92,8%), chủ yếu thuộc nhóm - Lactam (79,9%) và là dạng uống (97,3%). Đa số CBYT dựa vào triệu chứng bệnh (86,1%) và kết quả khám lâm sàng (50,9%) để kê đơn / bán KS cho trẻ. Không có CBYT nào kê đơn cho trẻ dựa vào KS đồ. Thời gian trung bình của một đợt sử dụng KS là 4,8 ± 1,5 ngày trong đó 25,2% CBYT cho trẻ dùng KS dưới 5 ngày. Chỉ có 24,5% CBYT được tập huấn trong vòng 3 năm qua về sử dụng thuốc hợp lý, an toàn.

Xem chi tiết

Sử dụng Cefotaxim (claforan) dự phòng nhiễm khuẩn trong phẫu thuật sọ não

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.3

Tác giả: Kiều Đình Hùng, Nguyễn Thị Hiền, Phan Thị Thu

Ở các nước phát triển có xu hướng không sử dụng kháng sinh hoặc chỉ sử dụng kháng sinh dự phòng với các trường hợp mổ sạch mà vẫn cho kết quả tốt. Nghiên cưú nhằm đánh giá hiệu quả của Cefotaxim (Claforan) dự phòng nhiễm khuẩn trong phẫu thuật sọ não tại khoa Ngoại- Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Kết quả cho thấy các loại bệnh lý sọ não được phẫu thuật của hai nhóm nghiên cứu và đối chứng có sự tương đồng. 100% BN sau mổ 4 ngày không có dẫu hiệu nhiễm khuẩn sau mổ . Hiệu quả kinh tế: mỗi BN đã được tiết kiệm 805.000 đồng tiền kháng sinh so với BN nhóm đối chứng, với 35 bệnh nhân, đã tiết kiệm được 28.200.000 đồng thuốc KS.

Xem chi tiết

Đặc tính kháng không đồng nhất với metronidazole và clarithromycin của các chủng helicobacter pylori phân lập từ cùng một mảnh sinh thiết dạ dày

Năm xuất bản: 2005

Số xuất bản: 5

Tác giả: Nguyễn Văn Bàng

Hiện tượng kháng kháng sinh (KS) của Helicobacter pylori (HP) đang ngày càng tăng, làm ảnh hưởng lớn đến hiệu quả điều trị diệt trừ vi khuẩn này, đòi hỏi giới y học nghiên cứu sâu hơn về đặc tính kháng KS của HP. Mục tiêu. Đánh giá tính nhậy cảm và kháng các KS metronidazol và clarithromycin của các chủng HP phân lập từ cùng một mẩu sinh thiết ở bệnh nhân. Phương pháp: Test E được dùng để đánh giá nồng độ ức chế tối thiểu (NĐUCTT) của 2 KS trên đối với 10 khuẩn lạc HP phân lập từ cùng một môi trường nuôi cấy mẩu sinh thiết dạ dày ban đầu từ 28 bệnh nhân (14 trẻ em và 14 người lớn). Kết quả: Kháng không đồng nhất trên nuôi cấy lần hai với metronidazol gặp trong 12/14 trường hợp và với clarithromycin trong 3/13 trường hợp có kết quả kháng trong nuôi cấy lần đầu. Ở những bệnh nhân có HP kháng không đồng nhất, có từ 2 đến 9 trong số 10 khuẩn lạc nuôi cấy lần 2 có NĐUCTT không giống nhau. Kết luận: Từ một mẩu sinh thiết dạ dày, có thể có nhiều khuẩn lạc mang tính nhậy cảm rất khác nhau với các kháng sinh trước khi điều trị, làm cho việc đánh giá tính nhậy cảm bằng KSĐ trở nên kém chính xác.

Xem chi tiết

Bệnh Mucopolysaccharidosis iva: tương quan giữa kiểu gen và kiểu hình

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 3.1

Tác giả: Vũ Chí Dũng, Nguyễn Phú Đạt

Báo cáo nhằm xác định đặc điểm các đột biến của gen GALNS, tìm hiểu mối tương quan giữa chức năng protein đột biến, kiểu gen, kiểu hình và nồng độ KS trong máu và nước tiểu của bệnh nhân mắc bệnh Morquio A. Đối tượng: 5 bệnh nhân được chẩn đoán mắc bệnh Morquio A, trong đó 2 bệnh nhân thể nặng và 3 bệnh nhân thể nhẹ hơn. Phương pháp: Sàng lọc đột biến của gen GALNS bằng kỹ thuật PCR; giải trình tự trực tiếp gen GALNS. Hoạt độ enzym GALNS được đo bạch cầu máu ngoại vi và fibroblast. Sử dụng kỹ thuật “high sensitive ELISA” để đo nồng độ KS trong máu và nước tiểu. Kết quả: Các bệnh nhân mắc thể nặng không có hoạt độ enzyme GALNS và các bệnh nhân mắc thể nhẹ hơn có hoạt độ enzym GALNS còn 4,7 đến 8,7% so với bình thường. Một đột biến mất đoạn mới (c.405_422+1del19) và một đột biến cắt nối mới (c.320-1G > T) được phát hiện. 7 đột biến khác nhau được phát hiện ở 5 bệnh nhân. 5 đột biến kết hợp với thể lâm sàng nặng và 1 đột biến kết hợp với thể lâm sàng nhẹ hơn. Các đột biến đều phù hợp với kiểu hình. Nồng độ KS trong máu và nước tiểu của bệnh nhân Morquio A cao hơn so với người bình thường và tăng cao hơn ở thể lâm sàng nặng so với thể nhẹ. Kết luận: Kết hợp việc phân tích đột biến gen, chức năng enzym với đánh giá lâm sàng và nồng độ KS sẽ giúp dự đoán mức độ nặng của bệnh và để đánh giá kết quả điều trị bằng liệu pháp thay thế enzym và gen trị liệu trong tương lai.

Xem chi tiết