Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành phòng bệnh đái tháo đường typ 2

Năm xuất bản: 2015

Số xuất bản: 6

Tác giả: Võ Thị Bổn, Trương Quang Đạt, Phạm Đức Phúc

Nghiên cứu cắt ngang phân tích nhằm mô tả một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành phòng bệnh đái tháo đường typ 2 của người dân 2 xã Phước Lộc và Phước Thuận của huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định năm 2014. Kỹ thuật chọn mẫu xác suất. Các biến số nhị phân phụ thuộc là kiến thức và thực hành chung phòng đái tháo đường typ 2 được đánh giá dựa trên bộ câu hỏi được lượng hóa bằng cách cho điểm. Các biến số nhị phân độc lập là các đặc điểm dân số và gia đình có tiền sử đái tháo đường. Kiến thức và thực hành chung phòng đái tháo đường được định nghĩa là “đạt” khi có tổng điểm kiến thức ≥ 26 và thực hành ≥ 24. Điều tra 460 người từ 30 đến 69 tuổi. Kết quả nghiên cứu cho thấy: OR cho kiến thức chung “không đạt” về đái tháo đường ở nhóm người có học vấn < trung học phổ thông, nghề nông và có người nhà bị đái tháo đường lần lượt là 7,1; 2,4 và 15,1 với p < 0,05. OR cho thực hành phòng đái tháo đường “không đạt” ở nam giới; tuổi 30 - 44; học vấn < trung học phổ thông; nghề nông và người nhà có tiền sử đái tháo đường lần lượt là 4,6; 1,8; 1,6 và 2,6 với p < 0,05. OR thực hành phòng đái tháo đường “không đạt” ở nhóm người có kiến thức chung về đái tháo đường “không đạt” là 8,8 (p < 0,05). Kết luận: có một số đặc điểm dân số liên quan đến kiến thức chung và thực hành chung về đái tháo đường “không đạt” như nam giới, nhóm tuổi 30 - 44, người có trình độ học vấn < trung học phổ thông, nghề nông, có người nhà bị đái tháo đường; những đặc điểm này cần được lưu ý trong truyền thông giáo dục sức khỏe phòng bệnh đái tháo đường ở cộng đồng.

Xem chi tiết

Tỷ lệ nhiễm lao tiềm ẩn và nguy cơ mắc bệnh lao của người nhà tiếp xúc với bệnh nhân lao phổi AFB (+)

Năm xuất bản: 2015

Số xuất bản: 6

Tác giả: Đỗ Phúc Thanh, Nguyễn Phúc Như Hà, Trần Thị Minh Diễm, Hoàng Viết Thắng, Trương Quang Đạt

Nghiên cứu cắt ngang phân tích và theo dõi dọc nhằm xác định tỷ lệ nhiễm lao tiềm ẩn dựa vào kết quả của xét nghiệm IGRAs (Interferon - Gamma Release Assays) và nguy cơ phát sinh lao phổi hoạt động ở người nhà tiếp xúc với bệnh nhân lao phổi có AFB (+) tại bệnh viện Lao và Bệnh phổi tỉnh Bình Định từ năm 2011 đến năm 2013. Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên, sử dụng bộ hóa chất “Quanti FERON TB Gold in tube” (Cellestis Limited, Carnegie, Victoria, Australia) tại phòng xét nghiệm Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh Bình Định để xét nghiệm IGRAs. Các biến số phụ thuộc là nhiễm lao tiềm ẩn và bệnh lao phổi. 200 người trong gia đình tiếp xúc với bệnh nhân lao phổi được xét nghiệm và lấy ngẫu nhiên 50 người chưa từng mắc bệnh lao của mỗi nhóm có IGRAs (+) và (-) để theo dõi phát sinh bệnh lao phổi. Kết quả nghiên cứu cho thấy, nhiễm lao tiềm ẩn của nhóm người nhà tiếp xúc bệnh nhân lao phổi là 36,5%; phát sinh bệnh lao của 2 nhóm tiếp xúc có IGRAs (+) và (-) sau 12 tháng và 18 tháng lần lượt là 8% và 12%. Nguy cơ tương đối phát sinh bệnh lao ở nhóm có IGRAs (+) sau 12 tháng, 18 tháng lần lượt với RR = 5,0 (95% CI: 0,6 - 41,3) và 6,0 (95% C I: 0,7 - 48,0). Ở nhóm người nhà tiếp xúc với bệnh nhân lao phổi, tỷ lệ IGRAs (+) là 36,5%; tỷ lệ phát sinh bệnh lao phổi sau 12 tháng và 18 tháng là 8% và 12%, cần được chú ý trong công tác phòng chống lao tại Bình Định.

Xem chi tiết

Hiệu quả kết hợp gương trị liệu trong phục hồi chức năng vận động bàn tay trên bệnh nhân liệt nửa người do nhồi máu não

Năm xuất bản: 2015

Số xuất bản: 6

Tác giả: Vũ Thị Tâm, Nguyễn Thị Kim Liên

Nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả kết hợp gương trị liệu trong phục hồi chức năng bàn tay ở bệnh nhân liệt nửa người do nhồi máu não. 60 bệnh nhân được chẩn đoán xác định là nhồi máu não được chia ngẫu nhiên thành 2 nhóm can thiệp và nhóm chứng, dùng thang điểm của Carr J.H và Shepherd R.B về vận động để đánh giá chức năng vận động bàn tay liệt và về mức độ khéo léo để đánh giá chức năng khéo léo bàn tay liệt. Kết quả nghiên cứu cho thấy chức năng vận động bàn tay liệt sau 1 tháng, ở nhóm can thiệp mức 4 đạt 46,7%, mức 5 đạt 16,6%, nhóm chứng mức 4 đạt 6,7% và không có bệnh nhân đạt mức 5 (p < 0,05). Sau 3 tháng ở nhóm can thiệp mức 5 đạt 33,4%, mức 6 đạt 20%, nhóm chứng mức 5 đạt 16,6%, không có bệnh nhân đạt mức 6 (p < 0,05). Chức năng khéo léo sau 1 tháng, ở nhóm can thiệp mức 4 đạt 13,35%, nhóm chứng 3,35% (p > 0,05). Sau 3 tháng, ở nhóm can thiệp mức 4 đạt 20%, mức 5 đạt 6,7%, nhóm chứng không có bệnh nhân đạt mức 4 và mức 5 (p < 0,05). Hiệu quả phục hồichức năng bàn tay nhóm ứng dụng gương trị liệu có cải thiện rõ rệt về chức năng bàn tay liệt so với nhóm chứng. Trong đó, chức năng vận động tay liệt tăng lên rõ rệt sau 1, 3 tháng với độ tin cậy trên 95% (p < 0,05). Chức năng khéo léo bàn tay được cải thiện rõ sau 3 tháng với độ tin cậy trên 95% (p < 0,05).

Xem chi tiết

Sai số khi vẽ phim sọ nghiêng cephalometry với phần mềm vẽ phim v-ceph

Năm xuất bản: 2015

Số xuất bản: 6

Tác giả: Võ Thị Thúy Hồng, Trịnh Đình Hải

Nhận xét sai số khi vẽ phim sọ nghiêng với phần mềm V - Ceph. 123 phim sọ nghiêng Cephalometry được vẽ bởi 4 bác sỹ nắn chỉnh răng có ít nhất trên 3 năm kinh nghiệm vẽ phim truyền thống. Mỗi phim được vẽ hai lần bởi cùng một người đo, 10% tổng số phim được rút ra một cách ngẫu nhiên và được vẽ lại bởi 1 bác sỹ khác. 21 chỉ số xương, răng và mô mềm trên phim sọ nghiêng được tiến hành đo. Kết quả cho thấy trong 21 chỉ số đo các bác sỹ có số lượng các chỉ số sai số có ý nghĩa thống kê là rất khác nhau: lớn nhất là 8 chỉ số và nhỏ nhất là 0. Mức độ sai số lớn nhất có ý nghĩa thống kê là 1,688 ± 3,024 đơn vị đo. Sai số khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai người đo khác nhau là 2 trong 21 chỉ số. Sử dụng phần mềm vẽ phim V - Ceph sai số giữa các lần đo ở cùng một người đo và giữa hai người đo khác nhau là rất khác nhau và sai số ở mức lớn.

Xem chi tiết

Một số đặc điểm sọ mặt trên phim sọ nghiêng ở bệnh nhân có hội chứng ngừng thở khi ngủ do tắc nghẽn

Năm xuất bản: 2015

Số xuất bản: 6

Tác giả: Nghiêm Hồng Nhung, Võ Trương Như Ngọc, Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Minh Sang

Nghiên cứu được thực hiện trên 25 bệnh nhân được chẩn đoán xác định có hội chứng ngừng thở khi ngủ do tắc nghẽn (OSAS) nhằm mô tả đặc điểm kết cấu sọ mặt ở nhóm bệnh nhân này. Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp mô tả cắt ngang, đánh giá kiểu mặt nhìn nghiêng trên lâm sàng, kích thước eo họng theo thang điểm Mallampati, đo các góc SNA, SNB, ANB trên phim sọ mặt nghiêng từ xa. Kết quả cho thấy tỷ lệ bệnh nhân có kiểu mặt lồi chiếm đa số, 18 bệnh nhân (72%). Chỉ số ngừng thở, giảm thở (apnea – hypoapnea index: AHI) trung bình ở nhóm bệnh nhân có Mallampati độ 1 và 2 là 20,63 ± 9,13 và thấp hơn nhiều so với nhóm Mallampati độ 3 và 4 (AHI trung bình là 49,85 ± 26,14), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê(p = 0,001). Góc SNB càng nhỏ thì chỉ số AHI càng lớn (r = -0,422, p = 0,036). Góc ANB càng lớn thì chỉ số AHI càng lớn (với r = 0,409, p = 0,042). Sử dụng thang điểm Mallampati trong khám lâm sàng và phim sọ nghiêng từ xa có giá trị gợi ý trong chẩn đoán nguyên nhân và mức độ của hội chứng ngừng thở khi ngủ do tắc nghẽn.

Xem chi tiết

Mối liên quan giữa kháng thể kháng smith với mức độ nặng của bệnh lupus ban đỏ hệ thống

Năm xuất bản: 2015

Số xuất bản: 6

Tác giả: Lê Hữu Doanh, Cấn Huyền Hân

Kháng thể kháng Smith (kháng thể anti - Sm) có giá trị trong chẩn đoán và tiên lượng bệnh lupus ban đỏ hệ thống (Systemic Lupus Erythematosus - SLE). Nghiên cứu nhằm xác định tỷ lệ dương tính và mối liên quan giữa kháng thể anti - Sm với mức độ nặng ở bệnh nhân SLE. Nghiên cứu 187 hồ sơ bệnh nhân SLE tại phòng khám bệnh viện Da liễu Trung ương, kháng thể anti - Smith dương tính ở 31,02% bệnh nhân. Điểm SLEDAI trung bình ở bệnh nhân có kháng thể anti - Sm (8,60 ± 4,90) cao hơn có ý nghĩa thông kê (p < 0,001) so với nhóm bệnh nhân không có kháng thể anti - Sm (5,84 ± 3,28). Tỷ lệ SLE có tổn thương nội tạng ở nhóm có kháng thể anti - Sm (37,93%) cao hơn tổn thương nội tạng ở nhóm không có kháng thể (17,83%) với p < 0,05. Tuổi trung bình bệnh nhân SLE xuất hiện tổn thương nội tạng có kháng thể anti - Sm dương tính sớm hơn so với bệnh nhân không có kháng thể (p = 0,04). Nghiên cứu chỉ ra rằng kháng thể anti - Sm có giá trị tiên lượng mức độ nặng và xuất hiện sớm tổn thương nội tạng ở bệnh lupus ban đỏ hệ thống.

Xem chi tiết

Tình trạng thai sản trên bệnh nhân lupus ban đỏ hệ thống

Năm xuất bản: 2015

Số xuất bản: 6

Tác giả: Trần Hoài Linh, Nguyễn Văn Đoàn

Lupus ban đỏ hệ thống là một bệnh tự miễn có biểu hiện lâm sàng đa dạng và thường gặp ở phụ nữ chủ yếu trong độ tuổi sinh đẻ. Vấn đề thai sản trong bệnh Lupus ban đỏ hệ thống có thể dẫn đến nhiều biến chứng cho cả mẹ và con. Nghiên cứu được thực hiện nhằm khảo sát một số đặc điểm lâm sàng - cận lâm sàng của bệnh nhân Lupus ban đỏ hệ thống mang thai, tìm hiểu đặc điểm thai sản trên bệnh nhân Lupus ban đỏ hệ thống và sự tăng trưởng của trẻ sinh ra bởi các bà mẹ Lupus trong năm đầu. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 88 bệnh nhân Lupus mang thai điều trị tại Trung tâm Dị ứng – Miễn Dịch lâm sàng từ 2011 –2015. Kết quả cho thấy, tuổi trung bình 26,84 ± 4,33 (năm). Tỷ lệ tăng huyết áp và thiếu máu khi vào viện lần lượt là 25% và 60,2%, đẻ non 50%, sinh đủ tháng 15,91%, thai lưu 18,18%, tuổi thai trung bình khi chuyển dạ 35,72 ± 2,96 (tuần), 48,3% thai chậm phát triển trong tử cung, tử vong trong năm đầu 5%, tỷ lệ thấp cân tại 6 tháng và 12 tháng lần lượt là 20% và 15,8%, bệnh Lupus ban đỏ hệ thống và quá trình thai sản có tác động qua lại lẫn nhau dẫn đến nhiều hậu quả nặng nề cho cả mẹ và con.

Xem chi tiết

Sự thay đổi khí máu động mạch sau mổ và các yếu tố nguy cơ của giảm oxy máu động mạch ở bệnh nhân được phẫu thuật bụng

Năm xuất bản: 2015

Số xuất bản: 6

Tác giả: Phạm Quang Minh, Nguyễn Hữu Tú

Nghiên cứu mô tả trên 215 bệnh nhân được phẫu thuật bụng tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội nhằm mục tiêu xác định tỷ lệ bệnh nhân có giảm oxy máu giai đoạn sớm sau mổ, giá trị tiên lượng biến chứng hô hấp sau mổ của giảm oxy máu và các yếu tố nguy cơ của giảm oxy máu. Kết quả cho thấy, ngày thứ nhất và ngày thứ hai sau phẫu thuật các chỉ số oxy hóa máu như PaO2 và PaO2/FiO2 đều giảm có ý nghĩa thống kê so với trước mổ (p < 0,05). 14 bệnh nhân (6,5%) bị giảm oxy máu động mạch ngày thứ nhất sau mổ, 30 bệnh nhân (13,9%) có giảm oxy máu động mạch ngày thứ hai sau mổ. Giảm oxy máu động mạch sau mổ ngày thứ hai là yếu tố tiên lượng biến chứng hô hấp sau mổ với độ nhậy, độ đặc hiệu, giá trị dương tính và giá trị âm tính lần lượt là: 94,12%, 92,93%, 53,33% và 99,46%. Giảm oxy máu giai đoạn sớm sau mổ có giá trị tốt trong việc tiên lượng biến chứng hô hấp sau phẫu thuật bụng (diện tích dưới đường cong ROC là 0,899). 3 yếu tố nguy cơ độc lập của giảm oxy động mạch sau phẫu thuật ngày thứ nhất là: tỷ số tiffeneau ≤ 75%, AaO2 ≥ 20 và thời gian gây mê ≥ 150 phút. 4 yếu tố nguy cơ độc lập của thiếu oxy sau phẫu thuật ngày thứ hai là: tỷ số tiffeneau ≤ 75%, AaO2 ≥ 20, Bilan dịch ≥ 1700 ml và có tình trạng viêm nhiễm đường hô hấp trên trước mổ.

Xem chi tiết

Mối liên quan giữa kháng thể kháng ro/ssa và tiền sử thai nghén của bệnh nhân lupus ban đỏ hệ thống

Năm xuất bản: 2015

Số xuất bản: 6

Tác giả: Nguyễn Thị Hà Vinh, Lê Hữu Doanh

Bệnh nhân Lupus ban đỏ hệ thống (Systemic Lupus Erythematosus - SLE) có khả năng mang thai như phụ nữ bình thường khác, nhưng thai nghén ở những bà mẹ này có thể hay gặp những tai biến sản khoa hơn. Kháng thể kháng Ro/SSA (anti - Ro/SSA, Sjogren’s syndrome A) là một trong những yếu tố nguy cơ của những tai biến sản khoa ở những phụ nữ SLE. Nghiên cứu nhằm xác định mối liên quan giữa tiền sử thai nghén và kháng thể anti - Ro/SSA ở bệnh nhân SLE. Kết quả cho thấy 56,8% số bệnh nhân có kháng thể anti - Ro/SSA dương tính, nồng độ kháng thể anti - Ro/SSA trung bình ở nhóm bệnh nhân có tiền sử thai nghén bất thường cao hơn nhóm bệnh nhân có tiền sử thai nghén bình thường. Sự có mặt của kháng thể anti - Ro/SSA là yếu tố nguy cơ làm tăng sự xuất hiện biến chứng trẻ sinh ra nhẹ cân.

Xem chi tiết